Phân Tích Bài Thơ “Đây Thôn Vĩ Dạ” Của Tác Giả Hàn Mặc Tử


Phân Tích Bài Thơ “Đây Thôn Vĩ Dạ” Của Tác Giả Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử mang một trái tim và một tâm hồn lãng mạn tràn đầy tình yêu đã bật lên những vần thơ, tiếng khóc của nghệ thuật trước cuộc đời. Những phút giây xót và sung sướng, những phút giây mà ông đã thả hồn mình vào trong thơ, những giây phút ông đã chắc lọc, đã thăng hoa từ nỗi đau của tâm hồn mình để viết lên những bài thơ tuyệt bút. Và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã được ra đời ngay trong những phút giây tuyệt diệu ấy. Ở bài thơ, cái tình mặn nồng trong sáng đã hòa quyện với thiên nhiên tươi đẹp, mối tình riêng đã ở trong mối tình chung hồn thơ vẫn đượm vẻ buồn đau. 

Bài thơ gắn với chuyện tình giữa thi sĩ và người con gái Huế tên Hoàng Cúc. Giữa những ngày đau đớn nhất cuộc đời, chàng lại nhận được bức ảnh sông nước xứ Huế đêm trăng, nhận thêm mấy dòng thư tín từ người con gái chàng từng thầm thương. Bao cảm xúc ùa về, cuộc hành hương trong tâm tưởng cũng từ đó, và những vần thơ hay nhất được gợi hứng từ xứ Huế mộng mơ đã bật trào trong nỗi nhớ...

Khổ đầu là kí ức về cuộc đời tươi đẹp và niềm rạo rực đắm say của thi nhân:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

Khổ thơ được mở đầu bằng một câu hỏi tu từ:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Đó có thể là lời trách, lời lời của người thôn Vĩ, lời mời trách vừa ngạc nhiên, vừa như dỗi hờn, nũng nịu vì sự “không về” của một người có sự gắn bó mến thương với thôn Vĩ, với cuộc đời. Bên cạnh, có thể hiểu đây là lời nhà thơ tự hỏi mình – lời nói thấm thía nỗi xót xa, cay đắng, tiếc nuối và bất lực: cảnh đẹp như thế, sao chỉ có thể hình dung trong kí ức, còn người da diết nhớ yêu lại không thể trở về? Nhưng dù hiểu theo cách nào, câu thơ vẫn gợi lên niềm khao khát, rạo rực, đắm say của thi nhân đau đáu hướng về cuộc đời cùng nỗi xót xa thấp thoáng hiện ra bởi sự “không về”.


Ngay sau đó là cảnh và người thôn Vĩ hiện lên qua hoài niệm của thi nhân trong ba câu thơ tiếp theo:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”.

Hình ảnh những “hàng cau” lấp lóa trong nắng sớm là một hình ảnh bình dị ở nhiều miền quê Việt Nam, cũng đồng thời là một vẻ đẹp rất đặc trưng, thân thuộc của bức tranh nhà vườn xứ Huế. Cảnh thôn Vĩ hiện ra trong một buổi sớm mai với “nắng hàng cau”, “nắng mới lên”. Nguyễn Bính – một nhà thơ của cảnh quê, hồn quê cũng đã đặt mối tình bình dị của đôi trai gái thôn quê trên cái nền phong cảnh có hình ảnh hàng cau thân quen ấy:

“Nhà anh có một hàng cau

Nhà em có một giàn giầu.”

Ở khoảng cách gần, thôn Vĩ hiện lên như một khu vườn đầy nhựa sống: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Vườn ai” không xác định nhưng ngầm hiểu là khu vườn của cô gái Huế. “Mướt” là một tính từ khác với “mượt” bởi “mượt” chỉ gợi lên sự mịn màng, còn “mướt” thì gợi sự sáng bóng, tươi mới của cảnh vật. Thủ pháp nghệ thuật so sánh “xanh như ngọc” thật đẹp, đó là một màu xanh ngọt ngào, lãng mạn, đượm màu sắc của tình yêu. Từ một hình ảnh thật trong tấm bưu thiếp, Hàn Mặc Tử đã sáng tạo nên một hình tượng thơ mộng, đẹp đẽ. Câu thơ cuối của khổ đầu đem lại ấn tượng về sự hòa quyện giữa con người và cảnh vật trong những nét phác họa mang tính chất cách điệu: cảnh đơn sơ hiền hòa trong chiếc “lá trúc”, người trung hậu thấp thoáng trong gương “mặt chữ điền”; hình ảnh con người ẩn hiện sau lá trúc còn tạo nên một nét đẹp e lệ, kín đáo, một vẻ đẹp duyên dáng rất riêng của người xứ Huế. 

Khổ thơ đầu là một bức tranh tuyệt đẹp của cuộc sống nơi trần thế, trong bức tranh ấy, cảnh trong sáng non tơ, tràn đầy sức sống, người thuần hậu, chất phác, đáng yêu. Thấm đẫm trong khổ thơ là những tiếng reo vui, trầm trồ, ngưỡng mộ, là cảm hứng rạo rực, đắm say tha thiết của thi nhân. 

Qua khổ thơ thứ hai đó là bức tranh tâm cảnh và thế giới của cõi mơ trong niềm yêu nhớ và nuối tiếc vô cùng của nhà thơ với cuộc đời:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyến ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Hai câu đầu dường như cũng là một bức tranh phong cảnh với đủ cả gió, mây, sông, nước:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

“Gió theo lối gió, mây đường mây” có lẽ không chỉ tả cảnh khi từ hình ảnh đến giọng điệu thơ còn gợi lên một cảm giác buồn bã và hiu hắt. Thông thường, gió mây gắn kết bởi gió thổi, mây bay, vậy mà trong bức tranh thiên nhiên của Hàn Mặc Tử những cái tưởng như không thể chia lìa, xa cách mà lại xa cách, chia lìa – “gió” một nơi, “mây” một nẻo. Phép nhân hóa trong hình ảnh “dòng nước buồn thiu” vừa làm hiện lên một dòng sông phẳng lặng như không trôi chảy, vừa gợi cảm giác như sự ngưng đọng nỗi buồn. Cảnh bến sông có “hoa”, có “gió”, nhưng không gợi sự tươi tắn sống động của cảnh sắc mà chỉ khiến bức tranh sông nước hiện ra u sầu, buồn tẻ. Động từ “lay” cho thấy gió thật nhẹ, thật buồn trong cái lay động khẽ khàng của “hoa”, và có lẽ cũng chính nhờ chút gió xao xác ấy mà cái buồn bã, tĩnh lặng, hiu hắt của thiên nhiên xứ Huế được hiện hữu. 

Hai câu thơ sau là nỗi nhớ, là hoài niệm của nhân vật trữ tình về sông nước, đêm trăng và tâm trạng xót xa, nuối tiếc:

“Thuyến ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Cách diễn đạt phiếm chỉ trong câu hỏi thứ nhất “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” gợi cảm giác thật tội nghiệp: dường như nhà thơ đang bị vây bọc trong thế giới tăm tối, lạnh lẽo, chới với vọng hỏi một ai đó ở thế giới bên ngoài – câu hỏi da diết bởi khát khao và đau đớn bởi sự vô vọng. Hình ảnh “con thuyền” cô đơn nằm trên “bến sông trăng” là một sự sáng tạo độc đáo của Hàn Mặc Tử, nó mang theo những nỗi niềm của thi sĩ. Chữ “kịp” thấm thía một nỗi buồn tiếc nuối, xót xa khi biết là không bao giờ kịp nữa trong cái quỹ thời gian ngắn ngủi, vậy mà Hàn Mặc Tử vẫn cố hỏi khiến câu hỏi vừa gấp gáp, bồn chồn trong niềm khao khát trở về. Cụm từ “tối nay” càng làm tăng thêm ý nghĩa và những cảm xúc ấy khi tối là thời gian cuối cùng của một ngày, “tối nay” lại mang ý nghĩa xác định khiến quỹ thời gian của người càng ngắn ngủi – chỉ có “tối nay”, chỉ còn “tối nay” nữa mà thôi, trăng không thể kịp về và người vĩnh viễn chìm sâu vào bóng tối.

Khổ thơ được xây dựng bằng cái nhìn tâm trạng của nhà thơ. Âm điệu rộn ràng, vui tươi ở khổ đầu không còn nữa. Tác giả mang mặc cảm của một người sắp phải từ giã cõi đời nên nhìn đâu nhà thơ cũng thấy sự chia lìa. Đặc biệt là cảm giác sợ hãi không kịp thời gian để tận hưởng cuộc sống nên ông càng khắc khoải. Khổ thơ cho thấy sự khao khát, mong mỏi được giao cảm với người, với đời, mong tìm được bạn tri âm của người nghệ sĩ bất hạnh. 

Đến khổ thơ cuối, tác giả đưa người đọc tới một cõi xa xăm, mờ nhòa sương khói và thế giới hư vô rợn ngợp – nơi thi nhân đang chới với trong hiện tại, sắp chìm rơi trong tương lai:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Chữ “mơ” đầu câu thể hiện niềm mong ước cháy bỏng của thi nhân muốn được cảm nhận, gần gũi với những hình bóng, hơi ấm của con người và cuộc đời nơi trần thế. Điệp ngữ “khách đường xa” như tái hiện hình ảnh con người nơi trần thế đang xa dần, mờ khuất dần trong ánh nhìn tiếc nuối mà vô vọng của thi nhân. Hình ảnh “áo em trắng quá” còn có mối quan hệ nhân quả với vế sau “nhìn không ra”… khiến câu thơ có thể hiểu theo một cách khác: trong màn sương khói mơ hồ của cả khổ thơ, trong sự nối tiếp cảm giác chơ vơ hụt hẫng tỏa ra từ câu thơ đầu khi người “khách đường xa” cứ khuất xa trong cõi mơ. Cụm từ “nhìn không ra” càng làm rõ hơn nỗi bất lực của tác giả khi thấy cuộc đời mỗi lúc một xa dần, thậm chí không còn cảm nhận được nữa. “Ở đây” là cụm từ chỉ một không gian xác định, đó là không gian nghiệt ngã và tăm tối đang bủa vây xung quanh Hàn Mặc Tử, không gian ấy bây giờ chìm trong “sương khói” mông lung, lạnh lẽo. Toàn bộ khổ thơ không còn cảnh, cũng không còn người khi tất cả đã nhòa mờ “nhân ảnh”, Hàn Mặc Tử tuyệt đối bị vùi lấp trong cô đơn, xa vời, cách biệt với cuộc đời mà ông yêu dấu. Từ cõi hư vô ấy, câu hỏi cuối cùng vang lên như một nỗi xót xa, tuyệt vọng của một người tha thiết mê đắm với cuộc đời: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Trong đó, tính chất phiếm chỉ của đại từ “ai” khiến cảm giác bơ vơ, cô độc tăng lên bởi ai đó thuộc về cõi thực ngoài kia, cõi Hàn Mặc Từ không nguôi mong nhớ. Đặt trong hệ thống ấy, “tình ai”sẽ là tình của cuộc đời, cách hiểu này gợi nỗi chua xót: xa cách chia lìa với cuộc đời, nhà thơ vẫn băn khoăn, khắc khoải không biết ai trong cuộc đời ngoài kia có nhớ tới mình không? 


Khổ thơ thể hiện sự bi quan, chán nản đến tuyệt vọng của một tâm hồn, khao khát tình người nhưng lại không được đáp lại. Một hoàn cảnh bất hạnh, tội nghiệp của Hàn Mặc Tử - một nhà thơ trẻ trong phong trào Thơ Mới. Và cho tới phút cuối cùng, Hàn Mặc Tử vẫn mong ai đó biết và thấu hiểu cho tình yêu khắc khoải của mình với đời, với người. 

Bằng các biện pháp nghệ thuật độc đáo, tác giả đã phá họa nên một bức tranh đẹp về cảnh người và người của miền đất nước qua tâm hồn giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệ thuật gợi liên tưởng, hoà quyện thiên nhiên với lòng người. Hàn Mặc Tử là một nghệ sĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời luôn thổn thức tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã biến những nỗi đau thương, bất hạnh thành những đóa hoa thơ, mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là “Đây thôn Vĩ Dạ”.  Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tử vẫn còn nguyên nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc.


Đánh giá của bạn về bài viết này:

Thành Trương Blog

Bắt đầu mỗi ngày với một suy nghĩ tích cực và một trái tim biết ơn

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn

Comments

×Close