Dàn Ý Phân Tích Bài Thơ “Từ Ấy” Của Tác Giả Tố Hữu

I. Mở bài:

“Từ ấy” là một bài thơ da diết, nồng nàn của tình yêu đôi lứa, cũng chẳng được tô vẽ bằng những bay bổng của thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp, không kiêu sa trong ngôn từ nhưng vẫn đủ giữ người đọc ở lại, mang một sức hút trong việc giác ngộ cách mạng rất lớn. Ở thi sĩ luôn cho người ta thấy công việc viết thơ văn  với ông không phải là trò tiêu khiển qua loa hay cũng chẳng phải để tạo dựng tên tuổi, lấy sự hào nhoáng mà nó là thơ văn của ông đi cùng tháng năm cách mạng, phục vụ lý tưởng cao đẹp cách mạng, đơn giản mà lớn lao vô ngần. Nhà thơ Tố Hữu viết bài thơ khi còn là một cậu bé mười bảy tuổi nhưng suy nghĩ lại vô cùng sâu rộng, có tầm nhìn, dù chỉ là những lời giải bày chính lòng mình nhưng đâu đó trong thơ mang hình bóng của đất nước, của cách mạng, của chân lí, của tình yêu mà bất cứ ai đọc đều thấm thía, xúc động và nhận ra nhiều chân lí cao đẹp ở đời. Tố Hữu sẽ cho ta thấy rõ nét trái tim đầy yêu thương, tâm hồn tinh tế, nhạy cảm bằng việc đi sâu phân tích bài thơ “Từ ấy”.

II. Thân bài 

1. Dẫn dắt:

Ai trong chúng ta đều có những khoảnh khắc đáng nhớ, không thể nào quên được. Đối với một  người làm mẹ, thì khoảnh khắc ấy có lẽ là được bồng trên tay đứa con đầu lòng của mình. Còn đối với  người vận động viên thì đó là lúc khi mà họ bước lên bục vinh quang giơ cao tấm huy chương công nhận  sự nỗ lực, phấn đấu của họ. Hay đối với một người học sinh thì có lẽ là khi chúng ta nhận được một bài  kiểm tra với một con 10 đỏ chói… Nhưng riêng với Tố Hữu thì khoảnh khắc khiến cho ông nhớ mãi, đó  chính là khi ông được gia nhập vào Đảng cộng sản Việt Nam, bắt đầu giác ngộ lí tưởng cách mạng. Điều  này khiến cho ông thật sự vui sướng và hạnh phúc. Và tình cảm, tâm trạng ấy đã được tác giả gửi gắm  trọn vẹn qua bài thơ “Từ ấy”. 

2. Phân tích:

a. Khổ 1: Bài thơ mở đầu bằng một khổ thơ diễn tả sự vui sướng, niềm hạnh phúc tột  đỉnh và sự say mê khi bắt gặp lí tưởng Đảng của cái tôi trẻ trung tràn đầy nhiệt huyết. Đảng như  vầng trăng sáng soi cho cuộc đời của thi nhân: 

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim.”
- Đầu tiên, tác giả nhấn mạnh khoảnh khắc “từ ấy” . Ông không xác định rõ thời gian nhưng chắc  hẳn nó vô cùng quan trọng đối với ông vì đó là thời khắc hết sức thiêng liêng, cao cả khi nhà thơ giác ngộ  lí tưởng cách mạng, đứng vào hàng ngũ của những người cộng sản. Nó đã trở thành mốc son, trở thành  bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời nhà thơ. Câu thơ mang tính chiêm nghiệm, hồi tưởng nhưng không  gợi cảm giác bâng khuâng, tiếc nuối mà ngược lại hết sức mạnh mẽ. “Từ ấy” là lúc ánh sáng của lí tưởng  tưởng cộng sản soi rọi, như chiếc đũa thần kì ban phép lạ, làm bừng tỉnh, giúp con người ngộ ra chân lý  của cuộc sống.
- Sau đó, nhà thơ đã gọi lí tưởng cộng sản bằng những hình ảnh ẩn dụ rực rỡ và ấm nồng:
“Nắng hạ”  – đó là thứ ánh nắng chói chang rực rỡ, nồng nàn, đang “bừng” lên trong ông,
xua đi sự u ám, băn khoăn,  nghi ngại. Nó giúp ông có cái nhìn tươi sáng, lạc quan, tin tưởng vào cuộc đời.  




- Với Tố Hữu, lý tưởng cộng sản còn là “mặt trời chân lí” - một nguồn sáng vô biên, bất diệt mang  lại sức sống, nguồn ấm nóng dạt dào. Ánh sáng ấy không chỉ được tác giả nhận thức bằng lí trí mà nó còn  “chói qua tim”, tức là được Tố Hữu tiếp nhận cả bằng tình cảm, tâm hồn. Nói cách khác, nhà thơ đã hiểu  được bản chất của cuộc đời, đâu là đúng, đâu là sai. Nhà thơ đã giác ngộ lí tưởng Đảng, cách mạng 1 cách  triệt để, thấu hiểu một cách sâu sắc, tâm phục khẩu phục. Đó cũng là giọng điệu chung của thơ Tố Hữu.  
- Liên hệ: Sau này khi viết về lí tưởng cộng sản, Tố Hữu cũng say sưa như thế: 
“Rồi một hôm nào, tôi thấy tôi
Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
Say đồng hương vui ca hát
Trên chín tầng mây bát ngát trời”
(Nhớ đồng)
- Có thể nói khổ đầu của bài thơ là khổ hay nhất, đậm đà và lãng mạn nhất trong toàn bộ bài thơ . Với bút pháp trữ tình, lãng mạn cùng với hình ảnh so sánh có tính chất khẳng định (Tố Hữu dùng từ “là”  chứ không dùng từ “như”), tác giả đã bày tỏ được niềm hạnh phúc vô biên, sức sống kì diệu của tâm hồn  mình trong buổi đầu đến với lí tưởng cách mạng.  
- Các tính từ chỉ mức độ như “đậm”, “rộn” đã nói hộ nhà thơ vể niềm vui sướng của mình. Tâm hồn  của nhà thơ từ thời điểm ấy đã trở thành một khu vườn mùa hạ xanh tươi, ngập tràn ánh nắng mặt trời,  nồng nàn, rộn rã tiếng chim ca và ngạt ngào hương sắc. Khu vườn ấy càng sinh động, càng có thêm sức  sống khi có ánh sáng của Đảng chiếu vào, dường như đó là điều khổng thể thiếu được. Điều này cho thấy  lí tưởng cách mạng là lẽ sống của đời ông.  
⇨ Chỉ bằng vài nghệ thuật quen thuộc: Ẩn dụ, so sánh, liệt kê; bằng cách sử dụng hàng  loạt các động từ mạnh “bừng”, “chói”, Tố Hữu đã rất thành công khi tái hiện lại tâm trạng sung  sướng, phấn khởi, hớn hở, ngây ngất trong khoảnh khắc giác ngộ lí tưởng cách mạng.  

b. Khổ 2: Những biểu hiện của nhận thức, lẽ sống mới của cái tôi trữ tình: 

- Như một sự tự nhiên, với lòng yêu nước, người thanh niên trí thức sau phút giây bừng  tỉnhvề lẽ sống thì đã có những biểu hiện về sự thay đổi trong nhận thức của chính bản thân mình: 
“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải khắp trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”
- Tố Hữu vốn thuộc gia cấp tiểu tư sản (tri thức, học sinh, sinh viên) mà hệ tư tưởng giai cấp  này thường chỉ đề cao cái tôi cá nhân.  
- Thế nhưng giờ đây, người thanh niên ấy nhận ra một điều: Cần phải gắn bó hài hòa cái tôi  vào cái ta, cá nhân với tập thể và ông làm điều đó một cách tự nguyện với quyết tâm cao độ thể hiện qua  từ “buộc”, “trang trải”. Ông tự nguyện gắn bó mật thiết, sống chan hòa với mọi người, với “trăm nơi”, với  quần chúng lao động trên khắp mọi miền đất nước. Không chỉ vậy, ông còn hướng sự quan tâm, chia sẻ,  đồng cảm với “những hồn khổ” – giai cấp vô sản, những người lao động nghèo khổ - để tạo nên sức  mạnh của sự đoàn kết, đồng lòng của cả một dân tộc mà tác giả gọi là “khối đời” – hình ảnh ẩn dụ chỉ  khối đoàn kết dân tộc. Đây chính là chủ trương của Đảng, của Cách mạng. Tố Hữu cũng đã viết: “Tất cả  cùng tôi. Tôi với muôn người. Chỉ là một. Nên cũng là vô số”. 
- Thật đáng quý biết bao tâm hồn tươi đẹp ấy. Tác giả sử dụng những cặp từ đi đôi với nhau:  “Lòng tôi” – “mọi người”, “hồn tôi” – “hồn khổ” nhằm thể hiện mối tương quan cá nhân với tập thể, giữa  “tôi” và “ta”, cái riêng và cái chung. 
⇨ Nhà thơ đã tự nguyện hòa mình vào quần chúng lao động, ông đã tìm thấy niềm vui,  sức mạnh. Nhờ đó, ông nhận ra mục đích sống, lí tưởng sống của cuộc đời mình. Đồng thời điều đó  cũng tạo nên trong ông nguồn cảm hứng để sáng tác văn học. 
- Liên hệ: Sống cùng thời đại nhà thơ có nhiều người chán nản đã quay lưng lại với cuộc đời để  thu mình trong cái tôi cô đơn. Như Chế Lan Viên: 
“Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”
- Lẽ sống của người chiến sĩ cộng sản, của một thi sĩ lớn là luôn hướng về phía đất nước, nhân dân và thấm thía sức mạnh của nhân dân với đất nước như mối liên hệ bền chặt giữa nghệ sĩ và cuộc  đời. Tô Hữu đã làm được điều ấy. 

c. Khổ 3: Khổ cuối cùng khép lại là sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của thi nhân.  Là sự hóa thân của cái tôi cá nhân vào cái ta chung của những “kiếp phôi pha”: 

- Tác giả xác định quá trình chuyển biến ấy diễn ra thật tự nhiên, nhuần nhuyễn, không hề  gặp trở ngại. Đó là điều tất yếu vì lí tưởng của cách mạng dường như đã đi vào máu thịt của ông được thể  hiện qua cụm từ “con của vạn nhà”. 
- Ông tự nhận mình là “con”, “em”, “anh” của những người lao động nghèo khổ. Đó là  những đại từ chỉ quan hệ ruột thịt gần gũi trong một gia đình. Điều đó cho thấy, tác giả không chỉ gần gũi  với giai cấp vô sản mà ông còn tự nhận trách nhiệm về mình: phải đấu tranh để bảo vệ những con người  đó, những người thân thiết của ông. 
- Tác giả gọi giai cấp vô sản bằng số từ chung “vạn” được lặp đi lặp lại ba lần. Dường như  gánh nặng của ông hết sức lớn lao, trách nhiệm nặng nề mà ông tự nguyện gánh lên vai. Qua đó nhà thơ  thể hiện thái độ căm giận cho sự bất công, ngang trái mà họ phải gánh chịu. Điệp cấu trúc  “là….của…”cho thấy tác giả đã hòa mình vào giai cấp vô sản. Đó không phải là sự thương hại mà là tình  cảm xuất phát từ tận đáy lòng của ông, là tình cảm của một gia đình đầm ấm, tràn ngập sự yêu thương,  che chở và đùm bọc. Ổng đã dùng nghệ thuật tăng tiến về sự cụ thể, chi tiết : “vạn nhà”, “ vạn kiếp phôi  pha”, “vạn đầu em nhỏ”. 



⇨ Tình cảm cá nhân của người thanh niên cộng sản đã chan hòa vào quần chúng lao  động. Tâm hồn ông như muốn mỏ rộng để bảo bọc cho những kiếp người cùng khổ. Tình cảm ấy thể  hiện một cách chân thành, cho thấy sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của nhà thơ. Bài thơ là lời  tuyên thệ cho quan niệm sáng tác của Tố Hữu bởi ông luôn trung thành với khuynh hướng văn học  cách mạng và những người lao động nghèo khổ cũng là đối tượng sáng tác của ông. 

III. Kết bài 

Có thể nói kho tàng văn chương Việt Nam thời kì kháng chiến sẽ chẳng thể rực rỡ, anh dũng nếu không có bước chân mạnh mẽ, nhiệt thành của Tố Hữu mang lá cờ của lý tưởng, của chân lý trong thơ ca hiện đại đến với bầu trời thi ca của chúng ta. Sẽ chẳng ai quên được một Tố Hữu với Từ ấy nồng nàn, rực cháy nhiệt huyết yêu nước, sức sống của người trẻ khi được giác ngộ chân lý của cách mạng, ánh sáng của Đảng soi hướng. Bài thơ đã ca ngợi vẻ đẹp của lí tưởng cách mạng và ý nghĩa của nó đối với mỗi cuộc đời cũng như toàn dân tộc. Qua lời văn chân thành, sự khẳng định chắc nịch của nhà thơ ta thấy được chính ánh sáng lí tưởng cách mạng thật sự là chất xúc tác kích thích năng lượng, lòng tin bên trong nhà thơ, nó như kim chỉ nam để cho Tố Hữu sống một cuộc đời ý nghĩa và thật đẹp khi trọn đời hy sinh trọn vẹn cho lý tưởng.

Đánh giá của bạn về bài viết này:

Thành Trương Blog

Bắt đầu mỗi ngày với một suy nghĩ tích cực và một trái tim biết ơn

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn

Comments

×Close