Dàn Ý Chi Tiết Phân Tích Bài Thơ "Đây Thôn Vĩ Dạ" - Hàn Mặc Tử

 

Xin chào các bạn, hôm nay Lite Convenience xin chia sẻ cho các bạn Dàn Ý Chi Tiết Phân Tích Bài Thơ "Đây Thôn Vĩ Dạ" - Hàn Mặc Tử do bạn Nguyễn Thành Trương học sinh trường THPT Tân Lược - Vĩnh Long chia sẻ. Bạn có thể sử dụng mục lục khi xem bài viết, biểu tượng nằm bên phải bài viết các bạn nhé.

I. Mở bài:

            Ai đã từng sinh ra và lớn lên trên cõi đời này mà không biết đến “lời rao trăng” của một nhà thơ cũng rất nổi tiếng trong những năm ba mươi của thế kỉ XIX, đó chính là Hàn Mặc Tử – một tên tuổi mãi mãi in đậm trong tấm lòng đọc giả. Ông là “một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại, đau đớn, dường như có một cuộc vật lộn và giằng xé dữ dội giữa linh hồn và xác thịt”. Ông “đã tạo ra cho thơ mình một thế giới nghệ thuật điên loạn, ma quái và xa lạ với cuộc đời thực”. Bên những dòng thơ điên loạn ấy, vẫn có những vần thơ trong trẻo đến lạ thường. “Đây thôn Vĩ Dạ” trích trong tập “Thơ Điên” là một bài thơ như thế. Đây chính là tuyệt phẩm của nguồn thơ lạ lùng kia – là một lời tỏ tình với cuộc đời của một tình yêu tuyệt vọng, yêu đơn phương nhưng ẩn bên dưới mỗi hàng chữ tươi sáng là cả một khối u hoài của tác giả. Bài thơ còn là tình yêu thiên nhiên, yêu con người Vĩ Dạ một cách nồng cháy – nơi chất chứa biết bao kỉ niệm và luôn sống mãi trong hồi tưởng của ông. Chính vì thế đọc bài thơ này ta thấy được một phương diện rất đẹp của tâm hồn nhà thơ.

II. Thân bài:

1. Dẫn dắt:

Sinh thời, Hàn Mặc Tử có thầm thương trộm nhớ cô Hoàng Thị Kim Cúc, tuy đây chỉ là mối tình đơn phương nhưng khi nhận được tấm bưu thiếp của cô Kim Cúc hỏi thăm về bệnh tình của mình, Hàn Mặc Tử đã rất xúc động, không khỏi mơ tưởng về người xưa. Đặc biệt, tấm bưu thiếp in hình ảnh làng quê Vĩ Dạ càng khiến nhà thơ càng khao khát được trở về Huế, nơi thi sĩ đã từng sống một thời gian.

2. Phân tích:

a. Khổ 1: Không gian cảnh vườn thôn Vĩ, nét đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế với nỗi nhớ da diết:

- Bài thơ mở đầu bằng một hoài niệm mênh mang về cảnh và con người thôn Vĩ. Bức tranh đẹp thơ mộng còn tình người thì tha thiết nhớ mong:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

- “Đây thôn Vĩ Dạ” cho ta gặp cái tôi trữ tình đau thương và khao khát. Câu thơ mở đầu phảng phất chút riêng tư của tác giả:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ”

- Hình thức câu thơ là một câu hỏi tu từ nhưng mục đích là gợi cảm giác như lời trách nhẹ nhàng và cũng là lời mời tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà thơ (hay đó cũng là lời tự trách mình, tự hỏi mình, là ước ao thầm kín của người đi xa được về lại thôn vĩ). Đó còn là lời giới thiệu thật khéo léo, tế nhị về vẻ đẹp của thôn Vĩ. Nhà thơ đã sử dụng từ “chơi” mà không dùng từ “thăm”. Nếu sử dụng từ “thăm” thì cấu trúc của thơ vẫn không thay đổi nhưng nó trở nên khách sáo, từ “ chơi” gợi lên sự thân mật, gần gũi và thắm thiết.

=> Câu thơ mang nhiều ý nghĩa sâu sắc: Nhà thơ tưởng tượng có người con gái ở thôn Vĩ đang mời mình nhưng thực chất chỉ là tưởng tượng. Điều này cho thấy ông rất cô đơn, đang trong hoàn cảnh tội nghiệp, đang khao khát có người chia sẻ, cảm thông với mình.

- Ngay sau đó là cảnh và người thôn Vĩ hiện lên qua hoài niệm của thi nhân trong ba câu tiếp theo:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

 

- Cảnh sắc thôn Vĩ được chiêm ngưỡng từ xa đến gần. Từ xa nhà thơ đã nhìn thấy những hàng cau cao vút đón ánh nắng mặt trời buổi sớm mai, màu nắng trong trẻo tinh khôi, ánh lên những giọt sương buổi sớm. Nhắc đến Vĩ Dạ thôn, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tâm trí nhà thơ là “hàng cau”. Bởi vì cau là một loài cây thanh nhã, xinh xắn với thân hình thằng tắp, tán lá xanh tươi. Cau còn là loại cây rất quen thuộc với làng quê Việt Nam.

Liên hệ: Nguyễn Bính – Một nhà thơ của cảnh quê, hồn quê cũng đã đặt mối tình bình dị của đôi trai gái thôn quê trên cái nền phong cảnh có hình ảnh hàng cau thân quen ấy:

“Nhà anh có một hàng cau

Nhà em có một giàn trầu”

(Tương tư)

- Ở khoảng cách gần, thôn Vĩ hiện lên như một khu vườn tràn đầy nhựa sống:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

- “Vườn ai” không xác định nhưng ngầm hiểu đó là khu vườn của cô gái Huế. “Mướt” là một tính từ khác với “mượt” bởi “mượt” chỉ gợi lên sự mịn màng còn “mướt” thì gợi sự sáng bóng, tươi mới của cảnh vật.

- Thủ pháp nghệ thuật so sánh “xanh như ngọc” thật đẹp, đó là một màu xanh ngọt ngào, lãng man, đượm màu sắc của tình yêu. Xanh ngọc là xanh trong, màu xanh đi liền với ánh sáng nhưng không chói chang mà lại rất dịu, người đọc có thể hình dung vẻ đẹp của viên ngọc đính giữa bầu trời xứ Huế.

Liên hệ: Xuân Diệu đã từng viết:

“ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá

Thu đến nơi nơi động tiếng huyền”

(Đây mùa thu tới)

=> Khung cảnh thiên nhiên hiện lên với gam màu chủ đạo là màu xanh vừa tươi tắn, đẹp đẽ vừa cho thấy sự lạc quan, yêu đời của tác giả dù ông đang bị bệnh.

- Không chỉ có cảnh đẹp tươi mới mà hình ảnh con người nơi đây cũng vô cùng xinh đẹp và tươi tắn. Đó là một người con gái xứ Huế đang e ấp, ngại ngùng, giấu mặt sau những khóm trúc. Dường như Hàn Mặc Tử không miêu tả vẻ đẹp của người con gái thực mà “khuôn mặt chữ điền” kia chỉ nhằm cho thấy đó là một con người có tâm hồn phúc hậu, đầy đặn, cân đối. Con người xứ Huế vừa đẹp người đẹp nết.

=> Khổ thơ truyền tải những kí ức đẹp đẽ của nhà thơ về xứ Huế, về Vĩ Dạ, vẻ đẹp nổi bật là sự hòa quyện giữa thiên nhiên và con người.

b.Khổ 2: Không gian bến sông trăng thực ảo đan xen và tâm trạng buồn đau, chia lìa

- Nếu như khổ thơ thứ nhất nhà thơ nhìn cảnh vật bằng niềm lạc quan, yêu đời thì sang khổ thứ 2, tâm trạng của thi nhân dường như đã có sự thay đổi, đó chính là lúc mặc cảm chia lìa hiện ra rõ nhất trong từng câu chữ:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

- Hai câu thơ đầu gợi lên vẻ đẹp của sông Hương xứ Huế và thi sĩ cảm nhận dòng sông qua tâm

trạng chia ly, cách biệt:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

 

- Không gian được mở rộng ra ngoài cảnh thôn Vĩ: trời mây sông nước xứ Huế. Câu thơ đã mang cả nhịp điệu nhẹ nhàng của Huế. Buổi ban mai ở Vĩ Dạ lúc này đã chuyển sang đêm tối. Đó là lúc tâm cảnh đã nhuốm vào ngoại cảnh, nỗi buồn của thi nhân dường như phủ khắp cảnh vật.

- Hình ảnh “gió”, “mây” là hai thực thể luôn gắn bó với nhau: gió thổi mây bay. Chúng ta không thể nhìn được mà chỉ cảm nhận được sự tồn tại của gió qua sự chuyển động của mây. Cách ngắt nhịp 4/3 rõ ràng, dứt khoát như ngắt thành hai nửa, gió đóng khung trong hai chữ “gió mây” cuộn trong hai từ mây để gợi ra tâm thế chia ly thật quyết liệt, không thể cưỡng lại được.

- Hình ảnh “dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” dùng biện pháp nhân hóa con sông thành một sinh thể có hồn, có tâm trạng để giãi bày tâm sự của chính mình. Câu thơ mang một tâm trạng buồn bã của con người hay nỗi buồn chia phôi của gió – mây?

- Động từ “lay” gợi một nỗi buồn hiu hắt, lay lắt – một nỗi buồn bao phủ từ bầu trời đến mặt đất.

=> Hai câu thơ đã mở ra một bức tranh thiên nhiên ảm đạm, hiu hắt mang dự cảm về hạnh phúc chia xa, nhuốm màu chia lìa, sự sống mệt mỏi, yếu ớt.

- Hai câu thơ sau là nỗi nhớ, là hoài niệm của nhân vật trữ tình về sông nước, đêm trăng và tâm

trạng xót xa, nuối tiếc:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

- Cảnh vật ở khổ một thực bao nhiêu thì khổ hai lại hư ảo bấy nhiêu: “thuyền chở trăng”, “sông

trăng”. Một không gian ngập tràn ánh trắng, gợi không khí mơ hồ, huyền ảo, đẹp một cách thơ

mộng làm cho không gian nghệ thuật trở nên hư ảo mênh mang.

- Hình ảnh con thuyền cô đơn nằm trên bến sông trăng là một sáng tạo độc đáo của Hàn Mặc Tử, nó mang theo những nỗi niềm của thi sĩ. Nếu như mọi vật đang trong thế chia lìa, li tán thì chỉ có

trăng là gắn bó với thi sĩ. Tâm hồn nhà thơ rợn ngợp trong nỗi cô đơn. Trong khoảnh khắc ấy, thi

sĩ chỉ biết mong đợi một hình ảnh duy nhất, đó chính là trăng. Vì thế câu cuối là một câu hỏi ẩn

chứa biết bao niềm khắc khoải, lo âu bởi quỹ thời gian còn lại của ông quá ngắn ngủi mà trăng thì vẫn còn quá xa xôi.

- Tâm trạng của nhân vật trữ tình phấp phổng, lo âu được thể hiện qua từ “kịp” vừa như mong chờ hi vọng từ một cái gì đó đang rời ra, biết khi nào trở lại. Điều đó đã khiến cho khoảng thời gian “tối nay” càng trở nên ngắn ngủi .

- Qua hai câu thơ ta thấy được bức tranh thiên nhiên sông nước xứ Huế buồn hiu hắt trong đêm trăng chở nặng nỗi niềm ưu tư của thi nhân. Tất cả được thể hiện qua câu hỏi tu từ đầy da diết và khắc khoải.

=> Khổ thơ được xây dựng bằng cái nhìn tâm trạng của nhà thơ. Âm điệu rộn ràng vui tươi ở khổ 1 đến đây không còn nữa. Tác giả mang mặc cảm của một người sắp phải từ giã cõi đời nên nhìn đâu nhà thơ cũng thấy sự chia lìa. Đặc biệt là cảm giác sợ hãi không kịp thời gian để tận hưởng cuộc sống nên ông càng khắc khoải. Khổ thơ cho thấy sự khao khát, mong mỏi được giao cảm  với người, với đời, mong tìm được bạn tri âm của người nghệ sĩ bất hạnh.

c. Khổ 3: Không gian thiên nhiên chập chờn gắn với cảm xúc mơ tưởng, hoài nghi:

- Mặc dù sống trong mơ nhưng thi nhân không mất hết hi vọng mà vẫn mong ước một cách mãnh

liệt:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

- Nhịp thơ đã có sự thay đổi, cảnh ở đây dường như không thật, nhịp thơ 4/3 và điệp ngữ “khách đường xa” được lặp lại hai lần thể hiện sự gấp gáp, vội vàng và mơ ước, khao khát đến mãnh liệt. Từ “mơ” nằm ở đầu câu, “mơ” chứ không phải là “mong”, vì không mong được nên “mơ”, vì sống trong “mơ” có lẽ sẽ bớt đi nỗi cô đơn thì phải.

- “Khách đường xa” dường như là cô gái xứ Huế và khách đường xa xuất hiện trong màu áo trắng. Màu trắng tượng trưng cho vẻ đẹp tinh khôi của cô gái Huế; màu trắng chỉ sự trong trắng của mối tình đơn phương của thi nhân. “Ở đây” – trại phong Quy Hòa - là nơi mà nhà thơ luôn xem là tù ngục giam lỏng mình. “Ở đây” và “ngoài kia” có xa xôi mấy đâu, vậy mà một lần về thăm thi nhân cũng không về được, đó chính là xứ Huế chứa đựng cả một trời kỉ niệm.

- Để rồi sau đó từ trong sâu thẳm tâm hồn của thi nhân cất lên một câu hỏi đầy hoài nghi và khắc khoải về một mối tình đơn phương “Ai biết tình ai có đậm đà ?” Chữ “ai” ở đầu câu là để chỉ cô gái Huế chăng ? Đây là sự hoài nghi của người yêu đời tha thiết. Nhà thơ trong trạng thái bị dày vò vì khao khát tình yêu, vì càng yêu nhiều thì sẽ càng lo sợ tình yêu ấy sẽ mất đi.

=> Đoạn thơ thể hiện sự bi quan, chán nản đến tuyệt vọng của một tâm hồn, khao khát tình người nhưng lại không được đáp lại. Một hoàn cảnh bất hạnh, tội nghiệp của Hàn Mặc Tử - một nhà thơ trẻ trong phong trào Thơ Mới.

III. Kết bài:

“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp về cảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủ pháp nghệ thuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tử đã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sự cô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Dầu vậy nhưng ông vẫn sống hết mình trong sự đau đớn của tinh thần và thể xác. Điều đó chứng tỏ ông không buông thả mình trong dòng sông số phận mà luôn cố gắng vượt lên nó để khi xa lìa cõi đời sẽ không còn gì phải hối tiếc. Trải qua bao năm tháng, cái tình của Hàn Mặc Tử vẫn còn tươi nguyên, nóng hổi và day dứt trong lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau đớn ấy có sức bay bổng kì lạ” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng và tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Đây là một nghệ sĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời luôn thổn thức tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã biến những nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ, mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là “Đây thôn Vĩ Dạ”.

________________________

Ghi chú: Các bạn độc giả muốn đóng góp tài liệu cho Lite Convenience liên hệ qua Email: liteconvenience@gmail.com

Đánh giá của bạn về bài viết này:

Thành Trương Blog

Bắt đầu mỗi ngày với một suy nghĩ tích cực và một trái tim biết ơn

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn

Comments

×Close